Các xét nghiệm tìm vi khuẩn HP

Các phương pháp chẩn đoán HP có thể chia thành hai nhóm: Các thử nghiệm xâm lấn được thực hiện qua nội soi dạ dày tá tràng và các thử nghiệm không xâm lấn.

Cho đến nay, sự nhiễm vi khuẩn HP (Helicobacter pylori) được coi là nguyên nhân chính gây viêm loét dạ dày – tá tràng. Người ta ước tính có hơn 50% dân số đã bị nhiễm HP, chủ yếu là ở các nước đang phát triển với tần số nhiễm rất cao từ 50 – 90% ở lứa tuổi lớn hơn 20 và hầu hết trẻ em bị nhiễm ở độ tuổi từ 2 – 8. Việt Nam cũng là nước có tỉ lệ nhiễm HP cao, chiếm khoảng hơn 70% ở người lớn. Trong khi đó ở các nước đã phát triển, tuổi bị nhiễm thường trên 50, chiếm hơn 50% dân số. Tần suất này tăng thêm 10% mỗi năm. Tổ chức y tế thế giới (WHO) xếp HP là một trong những nguyên nhân chính gây viêm loét dạ dày tá tràng và ung thư dạ dày. Do đó, việc phát hiện ra HP có ý nghĩa rất quan trọng trong bệnh lý dạ dày – tá tràng.

Các phương pháp chẩn đoán HP có thể chia thành hai nhóm:

– Các thử nghiệm xâm lấn được thực hiện qua nội soi dạ dày tá tràng.

– Các thử nghiệm không xâm lấn.

Nguyên tắc khi chỉ định thử nghiệm là bệnh nhân không được uống các  loại thuốc kháng tiết, các loại kháng sinh… và phải ngưng điều trị ít nhất 4 tuần.

I. Các xét nghiệm nghiệm xâm lấn được thực hiện qua nội soi dạ dày tá tràng :

1. Test nhanh urease:

– Nguyên tắc của thử nghiệm: nhằm phát hiện men urease của HPHP gần như là loại vi khuẩn duy nhất trong dạ dày tiết men urease với khối lượng lớn (ngoại trừ một số rất ít bệnh nhân bị nhiễm Helicobacter helmanii). Men urease của HP có trong mẫu mô dạ dày sẽ làm biến đổi ure thành amoniac ( NH3), NH3 làm môi trường thuốc thử có pH kiềm, vì vậy làm thay đổi màu của chất chỉ thị và theo phản ứng sau:

Urê + H2O  ——-> CO2 + NH3

– Độ nhạy của xét nghiệm: 85 – 90%.

– Độ đặc hiệu: 95 – 98%.

– Ưu điểm: Kinh tế, cho kết quả nhanh (15 phút đến 3 giờ), đơn giản, giá thành thấp để phát hiện H. Pylori.

– Nhược điểm: là phương pháp xâm lấn và không đánh giá được mức độ viêm.

Các trường hợp âm tính giả có thể do: mật độ vi khuẩn thấp, đang xuất huyết tiêu hóa, teo niêm mac dạ dày, u MALT, mới vừa dùng kháng sinh hoặc PPIs. Các trường hợp dương tính giả gặp trong nhiễm H.heilmanii, vi khuẩn này cũng sinh ra men urease và thường gặp trong dạ dày của chó, mèo, lợn. Khi độ toan dịch vị thấp, dương tính giả còn có thể gặp ở những trường hợp nhiễm vi khuẩn khác cũng sinh ra men urease như Enterobacter và Pseudomonas.sp.

2. Nuôi cấy vi khuẩn:

Nguyên tắc của phương pháp: Lấy mẫu mô niêm mạc dạ dày đem nhuộm Gram để tìm sự hiện diện  của vi khuẩn. Để xác định chính xác nhiễm HP về mặt phương diện vi trùng học cần phải nuôi cấy vi khuẩn.

– Độ đặc hiệu: gần 100%.

– Độ nhạy: 70 – 90%.

– Ưu điểm của phương pháp: Đây là thử nghiệm đặc hiệu nhất và có thể nói đó là tiêu chuẩn vàng có độ đăc hiệu 100%. Nuôi cấy còn cho biết mật độ của HP, cấu trúc gen của các chủng HP khác nhau. Đặc biệt phương pháp có thể làm được kháng sinh đồ.

– Nhược điểm: là xét nghiệm xâm lấn, chi phí cao, độ nhạy thấp. Không thể là xét nghiệm thường quy, nên dành cho các yêu cầu đặc biệt.

3. Xác định acid nhân của vi khuẩn (ADN):

-Nguyên tắc của thử nghiệm: Phản ứng khuếch đại gen cho phép phát hiện chuỗi ADN đặc hiệu của HP trong mẫu sinh thiết dạ dày, trong dịch dạ dày, trong chất nhày hoặc trong nước bọt, trong mảng bám răng, trong phân.

– Độ nhạy: 80 – 97%.

– Độ đặc hiệu: 83 – 100%.

– Ưu điểm: Phương pháp này có thể phát hiện mật độ vi khuẩn thấp < 10^6 vi khuẩn trong 1 gam phân.

– Nhược điểm: là xét nghiệm xâm lấn và không cho phép xác định sự hiện diện của vi khuẩn sống.

4. Chẩn đoán mô bệnh học:

– Nguyên tắc của phương pháp: nhuộm màu và soi trên kính hiển vi tìm HP trực tiếp trên mẫu mô bệnh học. Phương pháp nhuộm heamatoxyline và eosin (HE), Giemsa, Warthin-Starry, nhuộm tím Cresyle, nhuộm bạc hoặc Acridin Orange, nhuộm bạc cho hình ảnh HP rõ nhất.

– Độ nhạy của xét nghiệm: 85 – 95%.

– Độ đặc hiệu: 95 – 100%.

– Ưu điểm: là phương pháp chuẩn, cung cấp đầy đủ thông tin về tình trạng và mức độ viêm.

– Nhược điểm: là xét nghiệm xâm lấn.

5. Phản ứng chuỗi Polymerase PCR (Polymerase Chained Reaction):

–  Nguyên tắc của kỹ thuật: Mẫu bệnh phẩm (mô, vi khuẩn,..) được phân tích để lấy ADN đích, tiếp theo là bước khuếch đại từ những primer mồi hoặc là những AND đơn được bắt cặp vào đoạn khởi đầu hay đoạn cuối của chuỗi ADN đích với  sự tham gia xúc tác phản ứng tổng hợp của men Taq polymerase (là men chịu được nhiệt độ trích từ vi khuẩn Thermus aquaticus).

– Ưu điểm: ngoài việc chẩn đoán nhiễm HP trước điều trị, PCR còn dùng để theo dõi sau điều trị tiệt trừ HP. Phân biệt được sự khác nhau giữa tái nhiễm và tái phát, hoặc là một nhiễm khuẩn khác kết hợp.  Kỹ thuật PCR cũng được dùng để đánh giá các yếu tố gây bệnh của HP. Liên quan đến kháng thuốc, PCR còn giúp tìm ra gen đột biến tạo ra sự kháng thuốc của vi khuẩn ví dụ đề kháng Clarithromycine là do hiện tượng đột biến gen ở vị trí 23S RNA.

– Nhược điểm: do chi phí cao, máy đắt  tiền, đòi hỏi nhân viên xét nghiệm lành nghề nên kỹ thuật này chưa thông dụng lắm ở Việt Nam nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

II. Các thử nghiệm không xâm hại:

1. Nghiệm pháp thở C13 (UREA BREATH TEST=UBT):

– Nguyên lý: Cũng như test urease, Test hơi thở dựa trên khả năng phân cắt ure của HP. Bệnh nhân ăn thức ăn có chứa ure đánh dấu C13, enzyme urease của HP cắt ure làm thoát ra CO2 có chứa C13, khí thoát ra được thu lại định lượng bằng quang phổ hồng ngoại.

– Độ nhạy của xét nghiệm: 90%

– Độ đặc hiệu: 95%

– Ưu điểm: là test không xâm lấn.

– Nhược điểm: giá thành cao, không đánh giá được tình trạng viêm.

– Giá trị: là phương pháp lý tưởng để chẩn đoán diệt trừ HP.

2. Chẩn đoán huyết thanh:

– Nguyên lý của thử nghiệm: xét nghiệm huyết thanh dựa trên việc tìm kháng thể IgG và IgA chống lại H. Pylori. Nồng độ kháng thể cao xuất hiện ngay khi mới bắt đầu hoặc đang nhiễm H. pylori.

– Độ nhạy của xét nghiệm: 85%

– Độ đặc hiệu: 70 – 80%

– Ưu điểm: là xét nghiệm không xâm lấn, ít tốn kém và thích hợp cho nghiên cứu dịch tể học với độ nhạy trên 90%.

– Nhược điểm: không có lợi khi theo dõi diệt trừ H. pylori, độ nhạy và độ đặc hiệu không cao, không đánh giá được mức độ viêm.

3. Test nhanh bằng huyết thanh ( Doctor test):

– Nguyên tắc của phương pháp: huyết thanh hoặc máu của bệnh nhân được đặt trên một giải sắc ký có chứa sẳn những kháng nguyên đặc hiệu, phản ứng ngưng kết sẽ xảy ra trong vòng 2 – 3 phút và cho kết quả chẩn đoán dương tính.

Test nhanh bằng huyết thanh chủ yếu phục vụ cho các bác sĩ lâm sàng thực hành tại các cơ sở y tế, ít khi được áp dụng trong các nghiên cứu.

4. Test huyết thanh phát hiện kháng thể kháng CagA:

Ở phương Tây, những chủng HP biểu hiện với CagA (+) có liên quan đến bệnh sinh loét dạ dày tá tràng. Thử  nghiệm ELISA phát hiện những protein đặc hiệu của CagA hoặc là kháng thể kháng CagA. Tuy nhiên, ở phương Đông và Nam Mỹ, CagA (+) thấy ở hầu hết các đối tượng và không rõ sự khác biệt trong khả năng gây bệnh.

5. Tìm kháng thể kháng HP trong nước tiểu:

Năm 1998, các nhà khoa học Nhật Bản tìm thấy kháng thể IgG kháng HP trong nước tiểu của bệnh nhân. Từ đó mở ra khả năng một phương pháp mới để chẩn đoán nhiễm HP.

6. Dùng PCR chẩn đoán HP trong phân:

Trên thực nghiệm người ta đã dùng kỹ thuật PCR để tìm HP trong phân. Tuy nhiên, thử nghiệm này sẽ khó thực hiện nếu bệnh nhân có chế độ ăn nhiều chất xơ. Hiện nay, vẫn chưa có phương pháp nào đơn giản và hữu hiệu để giúp loại bỏ chất xơ này, vì vậy thử nghiệm này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi.

7. Immunoblot:

Immunoblot là phương pháp nhằm nghiên cứu sự đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân kháng lại những kháng nguyên khác nhau của HP.

Nguyên tắc: những kháng nguyên của vi khuẩn được phân tích bằng phương pháp điện di và được chuyển đến trên một màng nitrocellulose, tiếp theo được tiếp xúc với huyết thanh thử nghiệm. Thử nghiệm Immunoblot có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn nhiều so với chẩn đoán huyết thanh.  Giá trị thử nghiệm: dùng để chẩn đoán nhiễm HP và theo dõi kết quả điều trị tiệt trừ HP. Tuy nhiên, thực tế chưa được sử dụng như là một xét nghiệm thường qui.

Add Comment