Viêm loét hành tá tràng

Cũng như dạ dày, lớp niêm mạc tá tràng sẽ được bao bọc bởi lớp màng nhầy để tránh sự ăn mòn của acid từ dạ dày xuống. Vì một lý do nào đó, lớp màng nhày này bị phá hủy tạo điều kiện cho acid dạ dày tác động vào lớp niêm mạc gây viêm và lo&eacu;

Thức ăn sau khi ăn được đi xuống thực quản vào dạ dày, tại đó chúng được nghiền nát và tiêu hóa một phần rồi chuyển xuống tá tràng (phần đầu ruột non). Ở đây, thức ăn sẽ được trộn lẫn với các enzym tiết ra từ tuyến tụy, dịch ruột và dịch mật để phân giải tới mức đơn giản nhất và hấp thu vào máu. Cũng như dạ dày, lớp niêm mạc tá tràng sẽ được bao bọc bởi lớp màng nhầy để tránh sự ăn mòn của acid từ dạ dày xuống. Thông thường sẽ có sự cân bằng giữa lượng acid xuống tá tràng và yếu tố bảo vệ là lớp màng nhầy. Khi sự cân bằng này bị phá vỡ thì viêm loét niêm mạc tá tràng có thể phát triển và gây ra nhiều triệu chứng khó chịu như đau bụng, nóng rát, đầy hơi….Vậy nguyên nhân nào gây ra sự mất cân bằng này?

Kết quả hình ảnh cho dạ dày

Dưới đây là một số nguyên nhân:

– Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylory:

Nhiễm vi khuẩn H. pylory là nguyên nhân gây ra 19 trong 20 trường hợp loét hành tá tràng. Theo thống kê, hơn một phần tư số người ở Anh bị nhiễm H. pylori ở một số giai đoạn trong cuộc sống của họ. Loại vi khuẩn này xâm nhập sâu vào bên trong lớp niêm mạc tá tràng, giải phóng ra các độc tố phá vỡ lớp hàng rào bảo vệ niêm mạc tá tràng cho phép acid tác động niêm mạc vào gây viêm và loét.

– Do thuốc:

Các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) như aspirin, ibuprofen, diclofenac, indomethacin, piroxicam…, hay các corticoid đôi khi cũng gây ra viêm loét hành tá tràng. Các NSAIDs ức chế men COX1 làm giảm sự tạo thành chất nhầy của niêm mạc dạ dày – tá tràng. Khi chất nhày bảo vệ bị suy giảm thì acid dạ dày sẽ tấn công niêm mạc và gây loét. Mặt khác, các NSAIDs đều có đặc tính chung là các dẫn chất acid có độ tan kém nên khi ở trong môi trường acid của dạ dày lại rất khó tan, chúng sẽ kết tụ thành từng đám tinh thể acid. Các tinh thể acid này khi xuống tá tràng cũng có thể kích thích trực tiếp gây loét. Khoảng 1 trong 20 trường hợp loét tá tràng là do thuốc chống viêm.

– Các nguyên nhân và yếu tố khác: Các yếu tố khác như hút thuốc lá, stress, và uống nhiều rượu cũng có thể có thể làm tăng nguy cơ của việc có một vết loét tá tràng. Tuy nhiên, đây không phải là nguyên nhân  thường xuyên gây loét tá tràng.

Các triệu chứng và biến chứng của viêm loét hành tá tràng

– Đau thượng vị  (vùng bụng trên, ngay dưới ức): Đây là triệu chứng phổ biến, đau có thể dữ dội, đau rát, đau như bị cào, gặm; hoặc đau âm ỉ, bụng đầy hoặc cảm giác cồn cào như đói. Cơn đau giảm khi ăn thức ăn hoặc sau khi uống các thuốc kháng acid. Cơn đau lại đến sau khi ăn 1,5-3 giờ. Cơn đau thường làm bệnh nhân tỉnh dậy ban đêm. Có thể kéo dài vài ngày tới vài tháng. Đau tăng khi ăn thức ăn và nôn là các triệu chứng của loét môn vị.

– Các triệu chứng khác: Buồn nôn, nôn, đầy hơi và cảm giác khó chịu có thể gặp phải.

Các biến chứng xảy ra trong một số trường hợp, và có thể nghiêm trọng. Chúng bao gồm:

– Xuất huyết:  Người bệnh đau bụng nhiều, nôn ra máu, đại tiện phân đen như nhựa đường.

-Thủng: Người bệnh thấy đau bụng đột ngột, dữ dội, bụng căng cứng, nôn ra máu, nếu không cấp cứu kịp thời dễ bị tử vong.

Phát hiện viêm loét hành tá tràng như thế nào?

Những xét nghiệm có thể được thực hiện để chẩn đoán:

– Nội soi dạ dày – tá tràng: được thực hiện bằng một ống mềm cho phép thầy thuốc quan sát trực tiếp được tổn thương, đồng thời sinh thiết giúp chẩn đoán người bệnh có bị nhiễm Helicobacter pylori hay không. Trong trường hợp nghi ngờ ổ loét dạ dày ác tính cho phép sinh thiết để chẩn đoán trên vi thể giúp tìm được tế bào ác tính. Nội soi còn giúp theo dõi quá trình liền sẹo và khỏi của ổ loét.

-Các xét nghiệm tìm vi khuẩn HP như: xét nghiệm phân, test thở ure, nuôi cấy vi khuẩn, PRC, tìm kháng thể trong máu hoặc nước tiểu….

Phòng và điều trị viêm loét hành tá tràng như thế nào?

Sử dụng các thuốc điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng với mục đích:

– Giảm yếu tố gây loét: Sử dụng các thuốc ức chế bài tiết acid clohydric và pepsin hoặc thuốc trung hoà acid clohydric đã được bài tiết vào dạ dày – tá tràng.

– Tăng cường yếu tố bảo vệ niêm mạc: Bao gồm các thuốc bao phủ niêm mạc và băng bó ổ loét và các thuốc kích thích sản xuất chất nhầy (mucin) hoặc các phương pháp kích thích sự tái tạo niêm mạc bằng Laser cường độ thấp – Heli – Neon.

Diệt trừ Helicobacter pylori: Dùng các kháng sinh và các chất diệt khuẩn như Bismuth.

Ngoài việc uống thuốc điều trị duy trì, đối với các bệnh nhân loét dạ dày – tá tràng, chế độ ăn là một phần của các yêu cầu điều trị và một chế độ ăn đúng cũng góp phần tích cực vào kết quả điều trị:

Nguyên tắc chung:

Bệnh nhân cần tránh ăn các thức ăn dễ kích thích như:

– Rượu, các chất gia vị như ớt, hạt tiêu. các chất có nhiều chất chua: hoa quả, dấm…

– Không hút thuốc lá, thuốc lào.

Bệnh nhân cần phải chú ý: Có chế độ làm việc hợp lý, tránh làm việc gắng sức, tránh căng thẳng thần kinh, tránh Stress tâm lý.

Bệnh nhân cần lưu ý tái khám sau mỗi đợt điều trị, bác sĩ sẽ so sánh kết quả trước và sau khi điều trị để giúp bạn chữa trị bệnh hiệu quả!

Xem thêm tại : http://suckhoevaphongcach.com/tag/benh-da-day/ 

Add Comment